50 Năm Sau Chiến Thắng Điện Biên Phủ: Ăn Mừng Trong Cay Đắng

50 Năm Sau Chiến Thắng Điện Biên Phủ: Ăn Mừng Trong Cay Đắng

Bùi Tín
(Nguyễn Q. Khải lược dịch)

LGT: bài lược dịch này được viết với sự đồng ý của nhà báo Bùi Tín và chính yếu dựa vào bài của ông với tựa đề “Fifty Years On” đăng trên tạp chí Far Eastern Economic Review, số 13.5.2004. Bản tiếng Pháp được đăng trên tờ Courrier International dưới tựa đề “Điện Biên Phủ, Victoire au gôut amer”, ngày 13.5.2004. Điều đặc biệt trong dịp này là các báo quốc tế lớn nói trên đã không đăng những bài viết từ Hà-Nội mà lại đăng một cách trang trọng bài viết của một nhà báo Việt-Nam lưu vong đang sống tại Pháp.

Ông Bùi Tín là một cựu sĩ quan và phóng viên trong quân đội miền Bắc. Ông từng tham chiến chống lại quân đội viễn chinh Pháp, Mỹ và Khmer Đỏ và tham dự vào Ủy Ban Hỗn Hợp Bốn Bên để thi hành Hiệp Định Paris 1973. Ông giải ngũ vào năm1982 để ra làm việc cho tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng CSVN. Ít lâu sau ông được bổ nhiệm làm phó Tổng Biên Tập của tờ báo này. Trong dịp qua Pháp vào tháng 9, năm 1990 ông Bùi Tín xin tị nạn chính trị và hiện cư ngụ tại Paris. Trong 10 năm qua ông đã xuất bản một số sách bằng tiếng Việt, Pháp và Anh trong đó có “Hoa Xuyên Tuyết”, “Mây Mù Thế Kỷ”, “Mặt Thật – Hồi Ký Chính Trị Của Bùi Tín’, “Following Ho Chi Minh: The Memoirs of A North Vietnamese Colonel”, “Vietnam - La Face Cachée Du Régime”, và “From Enemy To Friend: A North Vietnamese Perspective On The War”.
Ж Ж Ж

Căn cứ Điện Biên Phủ của quân đội viễn chinh Pháp thất thủ vào ngày 7.5.1954 đánh dấu sự chấm dứt cuộc đô hộ gần 100 năm của thực dân Pháp trên đất nước Việt-Nam. Mặc dù tăng cường căn cứ Điện Biên Phủ với một số lượng binh sĩ và võ khí đáng kể, quân đội viễn chinh Pháp đã không đương đầu nổi với chiến thuật của Tướng Võ Nguyên Giáp và lực lượng kháng chiến dưới sự điều khiển của các đảng viên Cộng Sản. Sau đó Pháp đã hoàn toàn rút khỏi Việt-Nam vào năm 1955.

Điện Biên Phủ là một địa danh của một nơi ở gần biên giới Việt-Lào trước đây ít người biết đến. Nhưng nó đã chứng kiến một trận chiến đẫm máu kéo dài gần hai tháng. Tôi có mặt tại Điện Biên Phủ trong 3 tuần lễ của năm 1954 để đưa một nhóm 20 sĩ quan trẻ ra mặt trận để bổ xung cho những sĩ quan chỉ huy đã nằm xuống. Chỉ có ba người trong nhóm này sống sót.

Cho đến nay con số tổn thất của đôi bên tại Điện Biên Phủ vẫn còn là một điều bí mật. Theo sự ước đoán của tôi, phía Việt-Nam có khoảng từ 12,000 – 15,000 binh sĩ tử trận và một số tương đương bị thương nặng. Khoảng 3,000 quân nhân Pháp bị bắt làm tù binh đã chết trong các trại giam của quân kháng chiến trong khoảng thời gian từ ngày 7 tháng 5 tới giữa tháng 9, 1954 vì buộc phải lội bộ trên các con đường sỏi đá hoặc bùn lầy với đôi chân đất và vì bệnh tật.

Rất khó mà đổ lỗi về thảm kịch lịch sử này cho ai. Đây là một hậu quả tự nhiên không thể tránh được của một lối nhìn chính trị thiển cận theo đó chỉ có giai cấp đấu tranh và chuyên chính vô sản tàn bạo. Trong lối nhìn đó, những danh từ như “chủ nghĩa nhân văn”, “lòng nhân đạo”, hoặc ngay cả “đời sống” có nghĩa hoàn toàn khác hẳn với nghĩa thông dụng mà chúng ta thường hiểu.

http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/1/btvng.jpg Tôi thường tự hỏi chúng ta có cần những sự hi sinh khủng khiếp như thế để dành độc lập hay không. Với thời gian trôi qua, tôi ngày càng ngờ vực hơn. Độc lập là mục tiêu chiến đấu của chúng tôi, nhưng trên thực tế, Điện Biên Phủ đã được các lãnh tụ Cộng Sản Việt-Nam ca ngợi như là một bành trướng thắng lợi của đế quốc Cộng Sản, đáp ứng cho tham vọng về quyền lực và đất đai của nó. Họ hãnh diện là Việt-Nam đã trở thành một con tốt đen trên bàn cờ quốc tế dưới nhãn hiệu “dân chủ nhân dân” - một cụm từ do Joseph Stalin sáng chế, nhưng trên thực tế chẳng có tính chất gì là dân chủ hay nhân dân cả - và là một tiền đồn của chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Ngày nay đế quốc cộng sản không còn nữa, nhưng Việt-Nam vẫn chưa phục hồi được nền độc lập vì vẫn bị trói chặt và phụ thuộc vào một chủ nghĩa ngoại lai.

Độc lập phải đi đôi với tự do và hạnh phúc, Hồ Chí MInh nói với chúng tôi như thế - ít nhất về mặt lý thuyết. Trong thế giới ngày nay nền độc lập quốc gia thực sự phải đi kèm với dân chủ và những quyền tự do căn bản – nền móng của nhân phẩm con người. Trái ngược với điều này, tại Việt-Nam ngày nay, tự do báo chí, tự do phát biểu, tự do tôn giáo và quyền bỏ phiếu tự do bị coi là phá hoại. Tuy nhiên, đây chính là những quyền tự do mà chúng tôi đã tranh đấu tại Điện Biên Phủ, một ý nghĩ đã đè nặng trong tâm trí chúng tôi cho đến ngày nay, suốt 50 năm dài.

Nhân dịp kỷ niệm chiến thắng này, tôi nghĩ đến số phận thảm thương của những anh hùng thực sự của chiến trường. Tôi nghĩ đến Tướng Đặng Kim Giang, vị chỉ huy hệ thống tiếp vận tại tiền tuyến, Tướng Lê Liêm phụ trách tinh thần chiến đấu, Đại Tá Đỗ Đức Kiên phụ trách kế hoạch tác chiến. Không lâu sau chiến thắng tất cả những vị này đều bị bắt và bị đối xử như những kẻ phản bội trong vụ án “chính trị tưởng tượng” xét lại, chống đảng, làm gián điệp cho nước ngoài... Họ bị chết một cách nhục nhã trong các nhà tù.

Tướng Trần Độ, một anh hùng Điện Biên Phủ khác, chỉ huy trưởng của sư đoàn 312, từng xác nhận với Tướng Võ Nguyên Giáp bằng điện thoại vào chiều 7.5.1954 về sự đầu hàng của Tướng Pháp de Castries (Đại Tá thăng chức tại mặt trận trước khi bị bắt sống). Năm vừa qua ông đã bị công an xách nhiễu và dùng võ lực tịch thu cuốn hồi ký của ông. Hành động tàn bạo này đã làm cho sức khoẻ của ông suy sụp và đẩy ông đến cái chết. Một anh hùng Điện Biên Phủ khác là Đại Tá Phạm Quế Dương, chủ bút lâu năm của Tạp Chí Lịch Sử Quân Sự, bị bắt vào ngày 28.12.2002 và bị kết tội gián điệp chỉ vì ông dám công khai chống lại căn bệnh tham nhũng của hệ thống độc đảng và đòi hỏi dân chủ. Ông đang bị giam và đợi ngày xử án.

Số phận của những người này làm cho những ly rượu ăn mừng kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ có vị cay đắng. Chỉ có một cách để tưởng nhớ xứng đáng những người đã chết tại Điện Biên Phủ là tranh đấu để dân chủ hóa thật sự Việt-Nam và giúp quốc gia này hội nhập vào cộng đồng các nước dân chủ trên thế giới. Lịch sử trung thực của Điện Biên Phủ và Việt-Nam cần được viết khi những nhà sử học có lương tâm và khách quan – Việt-Nam, Pháp và các nước khác – có thể làm việc chung với nhau để rút tỉa những bài học thật sự từ một quá khứ đau thương này, để cho chúng ta, những người Việt-Nam, có thể đuổi kịp với hiện tại và tìm được một con đường đưa đến một nền độc lập thực sự cho đất nước và những quyền tự do đang còn ở phiá trước.

Chú thích: hình nhà báo Bùi Tín và Đại Tướng Võ Nguyên Giáp tại Đại Hội VI của Đảng CSVN tại Hà-Nội, tháng 12 1986.

Thảo luận 1:

Cám ơn chị Hai đã ra công sưu tầm cái tài liệu rất hay nầy ....

Xin mượn lời anh TimCT, Q. cũng cám ơn sis AT sưu tầm bài viết trên hén!

Để khi nào anh qcluu trổ tài món cá nướng thì sẽ mời chị và gấu con cùng bà con cô bác đến thưởng thức tài của anh qcluu .

:) Trời !!! Q. có bao giờ nướng cá cho ai ăn đâu (nướng thịt thì có!) mà sao được "tiếng" dzị kìa ! (Hay là "bất chiến tự nhiên thành"!?) . Nói chớ, nếu có dịp sẽ Q. sẽ hong ngại cho anh, amtham và GC thưởng thức ... rồi từ đó chắc là giả từ cá nướng luôn quá!


Riêng chị và gấu con, tụi nầy sẽ không quên mời thêm coca cola để cụng ly .

Thảo luận 2:

original article from Far Eastern Economic Review (feer.com)
--------------------------------------------------------

POSTCARD

Fifty Years On

A veteran of Dien Bien Phu explains why the anniversary of this famous battle holds a bitter taste

By Bui Tin

Issue cover-dated May 13, 2004

The battle of Dien Bien Phu marked the defeat of the colonial French at the hands of the communist-led resistance in northern Vietnam. Despite building up a large force in the northern border village, the French were no match for Gen. Vo Nguyen Giap's military tactics. France later quit Vietnam, and the country was formally partitioned. Dien Bien Phu fell on May 7, 1954.


FIFTY YEARS AGO, after a costly and bloody battle lasting nearly two months, the Vietnamese dealt the French a crushing blow at a little-known place near the Laotian border, Dien Bien Phu. For three weeks in April 1954 I was there, leading a group of 20 junior officers into battle to replace the fallen. Of those 20 men, just three survived.

In thinking about that victory, I am saddened that a cult of secrecy still surrounds our military losses. Fifty years later, there is still no accurate accounting of Vietnamese casualties at Dien Bien Phu. My guess is that between 12,000 and 15,000 died, and an equal number were seriously injured.

I think also of the 3,000-or-so French prisoners who died between May 7 and mid-September 1954 in our camps, enduring forced marches on bare feet along muddy, rocky paths.

This historical drama is difficult to pin on anyone. It was the natural and inevitable consequence of a "tunnel vision" of the world in which there was only class struggle and the pitiless dictatorship of the proletariat, in which words like "humanism," "humanity" or even "life" had a very different meaning from how we normally understand them.

I often ask myself whether we needed those terrible sacrifices to gain our national independence. As time goes by, I have more and more doubts. Independence was the flag we fought under, but in reality Dien Bien Phu was seen and hailed by the leaders of the Communist Party of Vietnam as above all else a major expansion of the communist empire. It fed their thirst for power and land. They were proud that Vietnam had become a pawn on the world chessboard under the label of "popular democracy"--a concoction of Joseph Stalin's that was neither popular nor democratic--and a forward post for communism in the Cold War world. Today the communist empire no longer exists, but Vietnam has still not fully recovered its independence and remains tethered to that alien doctrine.

Independence goes hand in hand with freedom and happiness, Ho Chi Minh taught us--in theory, at least. In today's world, true national independence must be accompanied by democracy and the fundamental liberties that are the foundations of human dignity. Contrast this with the situation in present-day Vietnam, where freedom of the press, of self-expression, of religion and the right to vote are considered subversive. Yet those were exactly the freedoms that we fought for in Dien Bien Phu, a thought that weighs heavily on our minds even today, 50 years on.

On this anniversary, I think of the tragic fates of the battle's true heroes. I think of Gen. Dang Kim Giang, logistics commander at the front, of Gen. Le Liem, who was in charge of political indoctrination, of Col. Do Duc Kien, chief of operations . . . Not long after that victory they were all arrested and charged as traitors. They died in isolation cells, in humiliation.

As late as last year, another hero of Dien Bien Phu, Gen. Tran Do, the commander of Division 312, who on the night of May 7, 1954, confirmed by telephone to Gen. Vo Nguyen Giap the surrender of France's Col. de Castries, was harassed by police and had his memoirs taken from him by force. This brutal act led to the deterioration of his health and his death. Another honoured Dien Bien Phu hero, Col. Pham Que Duong, long-time editor of the Journal of Military History, was arrested on December 28, 2002, and charged with espionage merely because he had dared to speak up against the endemic corruption of a one-party system and to demand democracy. He is now in jail awaiting trial.

The fates of these men give the wine of this 50th anniversary a bitter taste. The only way to honour the memory of those who died there is to work for the true democratization of Vietnam and for its integration in the international community of democratic countries. A true history of Dien Bien Phu and Vietnam remains to be written, when conscientious and objective historians--Vietnamese, French and others--can work together to extract the real lessons of this tormented past, so that we, the Vietnamese, can catch up with the present and find a path toward true national independence and the freedoms that await us there.

Bui Tin was an officer and correspondent in the northern Vietnamese army and later a senior journalist on a party newspaper. He left Vietnam in 1990 and now lives in Paris

Thảo luận 3:

Thanks

Thảo luận 4:

Cám ơn chị Hai đã ra công sưu tầm cái tài liệu rất hay nầy .... Để khi nào anh qcluu trổ tài món cá nướng thì sẽ mời chị và gấu con cùng bà con cô bác đến thưởng thức tài của anh qcluu .

Riêng chị và gấu con, tụi nầy sẽ không quên mời thêm coca cola để cụng ly .

Thảo luận 5:

From CNN http://www.cnn.com/2004/WORLD/asiapcf/05/06/vietnam.50years.ap/

Fifty years on, the lessons remain
The battle of Dien Bien Phu

By John Roderick, The Associated Press
Thursday, May 6, 2004 Posted: 9:46 PM EDT (0146 GMT)

(AP) -- AP Special Correspondent John Roderick covered the end of French rule in Vietnam and the beginnings of the U.S. involvement there. On the 50th anniversary of the defeat of the French by Ho Chi Minh's communist army at Dien Bien Phu, Roderick remembers those historic times.

To the stirring strains of the Marseillaise, before a scattering of spectators on a nearly empty military parade ground, a weeping French colonel lowered his nation's flag. On a gray autumn day 50 years ago, France's long colonial rule in Indochina reached its end.

The day before, marching in shoes made from old rubber tires, the victorious army of Vietnamese communist leader Ho Chi Minh had paraded into Hanoi in silent, perfect order.

The event that made it possible had happened a few months earlier, on May 7, 1954, when the French army, outflanked, outsmarted and worn down by a 56-day siege, surrendered to Ho's ragged army.

After nearly a century of colonial rule, the French army -- many of them Foreign Legion soldiers -- packed its bags and left for home, or for the southern half of the newly partitioned country.

Soon America's involvement would begin and explode into its longest and most controversial war -- a war whose legacy still reverberates through the occupation of Iraq and the 2004 presidential race.

The U.S. involvement began with a small military advisory group and the 1955 airlift of some of the nearly 1 million Vietnamese Catholics moving from the communist north to the south.

A motley collection of old American, French and Vietnamese planes took part in what some compared to the evacuation of Allied troops from Dunkirk in World War II. I boarded a French plane stripped down to accommodate its maximum human cargo, piled almost on top of one another. It was one of the scariest flights I have ever taken.

After two weeks of reporting on the disciplined entry of the Vietminh army into Hanoi -- streets swept and ladies of the evening ordered to find more wholesome employment -- I traveled to the port of Haiphong.

There I noted that French capitalism, complete with night clubs, prostitutes and gambling, was flourishing. Next day the communist Vietnam news agency accused me of deplorable bourgeois tendencies.

American reaction
The battle of Dien Bien Phu marked the climax of a long and complicated American reaction to France, an old ally, and to colonialism.

It was a historic irony that France was allowed back into its old colonial possession after the Japanese surrender of 1945.

Four years earlier, as a junior reporter, I attended a news conference in Rockland, Maine, where President Roosevelt described the Atlantic Charter he had just signed with British Prime Minister Winston Churchill. The charter pledged independence for nations under colonial rule.

Yet when the French asked Harry Truman, Roosevelt's successor, for permission to return to Indochina, he approved.

During the Dien Bien Phu battle, President Eisenhower confronted a dilemma. Caught up in the Cold War with the communist bloc, he was under heavy pressure to intervene.

Classified documents released in 1982 reveal he was urged by his National Security Council to send in troops. Admiral Arthur W. Radford, chairman of the joint chiefs of staff, suggested another option -- to drop one or two small nuclear bombs on the battlefield.

When the British refused to join a rescue mission, Eisenhower rejected both suggestions.

With the memory of the Korean War still fresh, he said, "No one could be more bitterly opposed to ever get the United States involved in a hot war in that region than I am. I cannot imagine a greater tragedy for America."

Yet even then he feared the spread of communism throughout Asia. In a 1954 news conference he spelled out his "falling dominoes" theory -- that losing Vietnam could lead to the communist domination of Southeast Asia, then Australia and Japan. Supporters of the later American involvement in Vietnam often quoted his statement.

By the end of 1962, President Kennedy had increased the number of U.S. military advisers in South Vietnam from 900 to 11,000, and authorized them to fight if fired upon. If his ultimate plan was to pull out, he was assassinated before it could happen, and under his successor, Lyndon Johnson, the Vietnam War began in earnest.

The dominoes have yet to fall. Fifty years after that solemn lowering of the tricolor, Vietnam is still communist, yet it has diplomatic relations with Washington, its former enemy, and is embracing American-style capitalism.
Tin khác :